THÁNH
PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI
Lời Chúa : Cv 9, 1-22 ; 1Cr 7, 29-31 ; Mc 16, 15-18
MỤC
LỤC
1. Cú ngã ngựa lịch sử
2. Con phải làm gì ?
3. Tông đồ cuối cùng - Phaolô trở lại
4. Thánh Phaolô ngã ngựa
5. Thánh Phaolô trở lại
6. Thánh Phaolô trở lại
-------------------------------------------------------
(Lm.
Giuse Nguyễn Hữu An)
Đọc lại cuộc đời Thánh Phaolô, ta nhận thấy
sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ
lùng.
Đọc Công vụ Tông đồ từ chương 8 trở đi,
ta sẽ bắt gặp một Saolô, ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều
thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở
Giêrusalem. Saolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham
gia vào vụ giết Têphanô và rong ruổi mọi đường Đamát truy lùng các Kitô hữu.
Được ơn trở lại qua cú ngã ngựa trên
đường Đamat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô, Tông
Đồ dân ngoại. Từ đây cuộc đời của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca. Thiên
anh hùng ca của vị Tông Đồ đã sống và đã chết cho Đức Kitô.
Cuộc sống bôn ba vì Nước Trời được điểm
tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải
hoàn "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng
là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo ?... Vì tôi
thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay
tương lai, hay bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật
nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện
cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 8, 35-39).
Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã viết rằng
: nét đẹp nhất nơi Phaolô là cú ngã ngựa lịch sử. Cuộc đời Thánh Phaolô có
nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần thì được đưa lên tầng trời thứ
ba ; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hylạp ; chẳng
hạn khi Ngài lênh đênh trên biển đi tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu
linh hồn ; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa. Nhưng tại sao Giáo Hội không
chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng
kính trong một ngày lễ ? Thưa vì đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc
đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một
cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất
bại và thành công.
Hai hình ảnh ấy dường như hội tụ lại
trong chân dung thánh Phaolô ngã ngựa mà Giáo hội mừng kính hôm nay.
1.
Cú ngã ngựa chia đôi cuộc đời
- Về danh xưng, nửa đời trước là Saolô
với một câu hỏi "tại sao ?" đang cưỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp
cho cuộc đời ; còn nửa đời sau là "Phaolô" đã trở thành chiếc phao
cứu tử cho cả lô linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.
- Về vị thế, nửa đời trước là một người
Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel,
nhiệt thành với truyền thống cha ông ; còn nửa đời sau là một vị Tông đồ thông
minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận
"tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi"
- Về hoạt động, nửa đời trước là một
chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu
trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô
và tự ý đến xin các Thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ
ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái ; thế mà nửa đời sau lại trở thành
một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã
bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những người Kitô hữu và
bất kể sự nguy hại tính mạng do những người Biệt phái cũ của ông.
- Về tình cảm, nửa đời trước là một
Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ khi gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông
đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa
đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.
- Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là
một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ
tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác ; nhưng nửa đời sau là
một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên
Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất
kể những đau khổ mình phải chịu : "Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức
mạnh tôi".
Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng
hợp tiêu biểu cho cuộc đời Thánh Phaolô. Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ của
con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa. (x Bài giảng Chúa Nhật, Tổng GP Sàigòn, tháng
01/2008).
2.
Cú ngã ngựa, một dấu ấn không phai
Biến cố ngã ngựa đã ghi dấu đậm nét
trong cuộc đời Phaolô. Sách Công vụ Tông đồ kể lại : thình lình ánh sáng từ
trời loé rạng bao lấy ông. Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh
sáng đó. Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô. Từ đó trở
đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể. Khi đã biết Chúa Kitô thì "Những điều kể
được như lợi lộc cho tôi đó, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Đức Kitô. Mà
chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự hết thảy là thua lỗ, là bất lợi cả, vì cái
lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ
mọi sự và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô, và được thuộc về Ngài,
không có sự sông chính của riêng tôi, sự công chính nại vào Lề luật, song là sự
công chính nhờ vào lòng tin của Đức Kitô... ( Pl 3, 7-9). Từ đó trở đi, Phaolô
hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự
duy nhất, sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người : "vì
anh em, phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô, thì đã được mặc lấy Đức Kitô
: không còn Do thái hay Hy lạp ; không còn nô lệ hay tự do ; không còn nam hay
nữ ; vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu" (Gal 3, 27-28). Vì
Đức Kitô là "tất cả mọi sự và trong mọi người" ( Cl 3, 11). Phaolô
hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô. Biết mình đã tin vào ai,
Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để
giáo hữu phải cung phụng mình (1Cr 9, 3-18 ; 2Cr 11, 8-10), sung sướng vì đã
mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô. Phaolô không ngại trở nên hùng
hồn kể về những "... lao tù đòn vọt, bao lần suýt chết, năm lần bị người
do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba
lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi" ; Phải chịu đủ
thứ nguy hiểm bởi "phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm
trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân
ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những
kẻ giả danh là anh em ;phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát,
nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng" (2Cor 11, 23-27). Phaolô
ra vào tù nhiều lần. Có lần Ngài viết từ ngục thất cho Timôthê, người môn đệ có
khi không khỏi nao núng :" anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta,
cũng đừng hổ thẹn vì tôi, là kẻ bị tù vì Ngài". Phaolô không hổ thẹn vì
tôi biết tôi đã tin vào ai... (2 Tim 1, 8-12). Vì đức Kitô "tôi phải lao
đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi, nhưng Lời Thiên Chúa không bị
xiềng xích" (2Tim 2, 9). Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những
yếu đuối của mình "Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới
viên thành" (2Cor 12, 9). Không gì có thể làm nao núng lòng tin ấy
"chúng tôi bị dồn ép mọi mặt nhưng không bị nghẽn ; lâm bĩ nhưng không mạt
lộ ; bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã nhưng không bị tiêu
diệt" (2Cor 4, 8-9) Phaolô nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả
thao thức "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cor
5,14). Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài
" tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Đấng yêu mến tôi và thí
mạng vì tôi" (Gal 2, 20).
3.
Những cú "ngã ngựa" trong đời tín hữu
Biến cố ngã ngựa đã chia đôi cuộc đời
Thánh Phaolô. Từ một kẻ thù, Chúa đã biến ngài thành một người bạn, một người
tình. Từ một người đi lùng bắt những Kitô hữu, Chúa đã biến ngài trở thành
người rao giảng về Người và sẵn sàng chết vì Người.
Phaolô đã viết những lời thật cảm động :
"Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian
truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo.... Tôi thâm tín rằng
sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù
quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì
có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta
trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (x. 2 Tm 4, 6-8 ; Rm 8, 18-19. 32. 33.
38. 39)
Nhìn vào biến cố "ngã ngựa"
của Thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp thấy rất
nhiều những cú "ngã ngựa". Có những cú "ngã ngựa" trong đời
sống thiêng liêng liên hệ với Chúa ; có những cú "ngã ngựa" trong đời
sống tình cảm liên hệ với tha nhân ; có những cú "ngã ngựa" trong đời
sống chiến đấu nội tâm ; và có những cú "ngã ngựa" trong đời sống xác
thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai,
hạnh phúc, sức khỏe...
Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn
"ngã ngựa" chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã
không gượng dậy được. Hãy nhìn "ngã ngựa" như một thất bại cho một
thành công lớn hơn trong ơn thánh. Ăn trái cấm là một thất bại của Ađam - Evà
trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với
việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. "Tội hồng phúc" là thế. Cái chết
của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là
một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.
Và cú "ngã ngựa" của Thánh
Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt cuộc đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là
một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị Tông đồ dân ngoại.
Như vậy người ngã ngựa không chỉ nhìn
vào mình để cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong
ánh sánh niềm tin. Nếu "ngã ngựa" là điều không thể tránh được, thì
điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải khi ngã người ta
trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh
mạnh mẽ của mình.
(Lm.
Nguyễn Cao Siêu)
Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như
Phaolô : ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.
Như Phaolô, mong chúng ta để cho Đức
Kitô Giêsu chiếm lấy mình, và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.
Suy niệm :
Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về
một cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách hại
các Kitô hữu.
Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường
anh đang đi.
Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ bỏ
đạo Do Thái chính thống, để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà họ
tin là đã phục sinh.
Trong tư cách là một người Pharisêu
nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3), Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị
những kẻ phản đạo, bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu
(cc. 4-5).
Chính lúc đang say sưa đến gần thành
Đamát thì anh bị quật ngã.
Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở
sang một trang mới.
Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến
bước, thì ánh sáng chói lòa từ trời làm anh ngã quỵ (c. 7).
Khi Saun nghĩ mình là người sáng mắt,
thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11).
Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ lầm
đường lạc lối, thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi (c. 11).
Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với
người mà anh chỉ nghe tiếng nói.
Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự
giới thiệu : “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta ? Ta là Giêsu Nadarét mà
ngươi đang bắt bớ” (c. 8).
Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính Đức
Giêsu.
Đức Giêsu và các Kitô hữu là một.
Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng thể
nào quên.
“Lạy Chúa, con phải làm gì ?” (c. 10).
Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh không
hề tin là Chúa.
Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là
Chúa, anh lập tức phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.
Nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã không nói
gì.
Ngài trao anh cho ông Khanania, một người
chưa phải là Kitô hữu.
Chính ông này cho mắt anh thấy lại và
cho anh biết anh được chọn để làm chứng nhân cho Ngài trước mặt mọi người.
Đa-mát là nơi Đức Giêsu tỏ mình cho
Saun, cũng được gọi là Phaolô, là nơi ông nghe tiếng gọi trở nên tông đồ cho dân
Ngoại, và cũng là nơi khởi đầu cho cuộc hoán cải tận căn của ông.
Chính mặc khải của Đấng phục sinh dẫn
đến ơn gọi và hoán cải.
Từ nay cuộc đời của Phaolô đi sang một
hướng mới.
Giêsu đã trở nên trung tâm của đời ông.
“Tôi coi tất cả như đồ bỏ, để chiếm được
Đức Kitô” (Ph 3, 8).
Biến cố trên đường đi Đamát đã chia đời
ông làm hai.
“Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi
chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Ph 3, 13).
Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như
Phaolô : ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.
Như Phaolô, mong chúng ta để cho Đức
Kitô Giêsu chiếm lấy mình, và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.
Cầu nguyện :
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ cõi chết đến sự
sống,
từ lầm lạc đến chân lý.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ thất vọng đến hy
vọng,
từ sợ hãi đến tín thác.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ ghen ghét đến yêu
thương,
từ chiến tranh đến hòa
bình.
Xin hãy đổ đầy bình an
trong trái tim chúng con,
trong thế giới chúng con,
trong
vũ trụ chúng con.
(Mẹ
Têrêxa Calcutta)
Người ta gọi Ngài một biệt danh như thế,
nhưng Ngài không được hân hạnh như nhóm 12 các ông, đã được trông thấy Người,
được nghe, được đi theo sau khi được Người chọn các ông. Đối với 12 vị, Đức
Kitô không phải là người xa lạ, đó là người cùng làng xóm. Một người cùng chi
họ. Còn Phaolô, ông không bao giờ trông thấy Đức Kitô. Nếu ông là kẻ bắt bớ các
tông đồ và các môn đệ, không phải vì các ông này tuyên xưng danh Đức Kitô,
nhưng các ông cũng như Đức Kitô, đã làm rối trật tự, Phaolô là người biệt phái,
công dân Rôma, môn sinh của các thầy nổi tiếng thời đó. Ông không đấu tranh
chống lại một bóng ma, nhưng chống lại những kẻ theo một giáo lý mới làm điên
cuồng.
Một
thế hệ mới...
Phaolô đã là một người thuộc thế hệ mới
của các tông đồ. Công vụ tông đồ kể lại một cách tóm tắt cho chúng ta đoán được
Phaolô chắc chắn đã tiêu hao nhiều năm đi bắt bớ các tín hữu, trước khi bị té
ngựa trước ánh sáng Đức Kitô. Sứ điệp của Đức Kitô đã ban bố và được đón nhận
khắp xứ Giuđa. Trước khi Phaolô xuất hiện. Phêrô đã làm cho nhiều người ngoài
Do Thái trở lại rửa tội.
Phaolô, một người thuộc thế hệ mới, vì
ông sống trong nền văn hóa Hy lạp, được giáo dục Rôma. Và cuộc trở lại của ông
là nhờ ơn Chúa biến đổi ông tận gốc.
Cho tới ông, Tin Mừng còn hạn chế chỉ
giảng cho người Do Thái, trừ Phêrô mới giảng một lần cho dân ngoại. Nhưng khi
đến thời giảng Tin Mừng cho dân ngoại, thì Phaolô trở thành một Tarrê, một bổn
đạo mới đã được trao trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.
Thánh
Thần đổi mới
Phải trông cậy vào Thánh Thần, Ngài đến
canh tân mọi sự, Thánh Thần muôn đời tươi trẻ. Ngài không bảo chúng ta phải
chiều theo những tính hay thay đổi của tuổi trẻ, bắt chước những tính đó là làm
trò hề và ngu muội, Ngài bảo chúng ta phải biết lắng nghe những gì cao đẹp và
tươi trẻ, và thi hành trọn vẹn những đòi hỏi của chân lý của chân thành, của ân
huệ và hướng dẫn những tính tự nhiên đó sống theo Thánh Thần.
Ước mong những người đạo lâu đời trở nên
những người đầu trong tình yêu và tái sinh thành trẻ trung và đổi mới theo
Thánh Thần.
(Trích
trong ‘Làm Nụ Hoa Trắng’, GM Giuse Vũ Duy Thống)
Cuộc đời thánh Phaolô có nhiều hình ảnh
đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần được đưa lên tầng trời thứ ba ; chẳng hạn khi
ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hy Lạp ; chẳng hạn khi ngài lênh
đênh trên biển tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn ; và còn rất
nhiều hình ảnh đẹp khác nữa. Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những
hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày
lễ ?
Thưa vì hình ảnh đó là một biến cố quan
trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau,
nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh,
đồng thời cũng có thất bại và thành công.
Hai nửa đời ấy dường như hội tụ lại
trong hình ảnh thánh Phaolô ngã ngựa hôm nay.
1)
Cú ngã ngựa cũng là ngã rẽ cuộc đời
Về danh xưng, nửa đời trước là
“Saolô” với một lô câu hỏi “tại sao ?” đang cỡi ngựa vút
lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời ; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành
chiếc phao cứu tử cho cả lô linh hồn ngài gặp trên đường
truyền giáo.
Về vị thế, nửa đời trước là một người
Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel,
nhiệt thành với truyền thống cha ông ; còn nửa đời sau là một vị tông đồ thông
minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận
“Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”.
Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng
thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong
những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự
ý đến xin các thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin
vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái ; thế mà nửa đời sau lại trở thành một
người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã
bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những Kitô hữu và bất kể
sự nguy hại tính mạng do những người bạn biệt phái cũ của ông.
Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô
mù quáng hận thù, nhưng từ lúc gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị
choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác
bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.
Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là
một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ
tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác ; nhưng nửa đời sau là
một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên
Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất
kể những đau khổ mình phải chịu : “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh
tôi”.
Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng
hợp tiêu biểu cho cuộc đời thánh Phaolô. Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ con
người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa.
2)
Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu
Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của thánh
Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản những cú
“ngã ngựa”. Có những cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa ;
có những cú ngã ngựa trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân ; có những cú
ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm ; và cũng có những cú ngã ngựa đau
điếng trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh
dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…
Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã
ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy
được, mà hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại làm điều kiện cho một thành công
lớn hơn trong ơn thánh. Ăn trái cấm là một thất bại của Adam Evà trong quyền
làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi
Hai Thiên Chúa làm người. “Tội hồng phúc” là thế. Cái chết của Chúa Giêsu trên
thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, nhưng lại là một thành
công trong chiến thắng cứu độ vinh quang. Và cú “ngã ngựa” của thánh Phaolô hôm
nay là một thất bại chấm dứt quãng đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành
công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.
Như vậy, người ngã ngựa không nhìn vào
mình để chỉ cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong
ánh sáng niềm tin. Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan
trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải khi ngã người ta trở nên
mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ
của mình.
Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở
lại của Thánh Phaolô. Theo Sách Công Vụ các sứ đồ, quyển sử ký ghi lại giai
đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Saolê, tên gọi Do Thái của Phaolô, là một thanh
niên thông thái và đầy nhiệt huyết đối với Đạo. Vừa thụ huấn xong với một thày
Rabbi nổi tiếng trong nước, Saolê xung phong đi săn lùng những người môn đệ của
Đức Kitô mà anh cho là một bè phái đi ngược lại với đạo giáo.
Một hôm, đang trên đường đi Damascô để
lùng bắt các môn đệ của Chúa Giêsu, anh đã bị một luồng Sáng đánh quật té xuống
khỏi ngựa và từ trong ánh sáng ấy, anh đã nhận ra tiếng nói của Chúa Giêsu :
“Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt hại”.
Từ đó, sự hăng say bách hại các kitô hữu
đã biến thành lòng nhiệt thành phụng sự Giáo Hội của Đức Kitô. Thiên Chúa đã xử
dụng Phaolô làm khí cụ Truyền Giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, tức là các dân tộc
ở ngoài Do Thái giáo.
Cuộc trở lại của thánh Phaolô đã đánh
dấu một khúc quanh quan trọng nhứt trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi. Tin
Mừng không chỉ giới hạn trong ranh giới của Do Thái cũng như Lề Luật Maisen,
Tin Mừng không còn là một nối dài của Do Thái giáo, nhưng chính là một tôn giáo
mới cho mọi dân tộc mọi văn hóa.
Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của
thánh Phaolô như cao điểm của tuần lễ cầu cho hiệp nhứt. Nơi thánh Phaolô, con
người đã dám vượt ra khỏi ranh giới của dân tộc, của đạo giáo của mình, để
tuyên bố : hãy trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, La Mã với người La Mã, nô lệ
với người nô lệ. Giáo Hội nhận ra kiểu mẫu đích thực của hiệp nhứt. Sự hiệp
nhứt chỉ có thể thực hiện được, nếu mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu có đủ can
đảm ra khỏi chính mình. Phải chăng đó không là đòi hỏi đầu tiên của sự trở lại
?
Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản
khoa học xã hội, “trở lại” nghĩa là về nơi mình ra đi.
Nơi mình đã xuất phát, nơi mình đã ra đi
đối với người Kitô chúng ta là gì nếu không phải là Thiên Chúa. Như vậy, trở
lại chính là quay trở về với Thiên Chúa.
Sự quay trở lại ấy đòi hỏi một sự từ bỏ
tận căn và một thái độ sẵn sàng tuyệt đối. Chúng ta hãy đọc lại cuộc trở lại
của thánh Phaolô : Phaolô là một người thanh niên hăng say với lý tưởng. Lý
tưởng của anh chính là phụng sự Chúa hết mình bằng cách tiêu diệt những kẻ mà
anh cho là tà đạo. Nhưng trong phút chốc, lần ngã ngựa đau điếng cả người hôm
đó đã buộc anh phải xoay chiều hoàn toàn : những gì anh cho là tà đạo trước kia
nay anh phải xem là chính đạo. Phaolô phải quay ngược đường trở lại. Từ bỏ tất
cả những gì mình hằng ôm ấp từ trước đến nay, từ bỏ con đường mình đang đi,
Phaolô đã trở thành một khí cụ mềm nhũn trong tay Chúa.
Ra khỏi chính mình, từ bỏ chính mình để
trở thành khí cụ trong tay Chúa : đó là đặc điểm của sự trở lại trong Kitô giáo
chúng ta.
Sự trở lại đó không chỉ là sự quay về
với Chúa của những người không tín ngưỡng, của những người từ một Giáo Hội khác,
nhưng là đòi hỏi từng ngày của người kitô. Mỗi lúc một đến gần với cùng đích
của chúng ta là chính Chúa : đó là lý tưởng của người kitô chúng ta.
Càng đến gần với Chúa, càng sẵn sàng trở
nên khí cụ của Chúa, chúng ta càng đến gần với tha nhân.
Xin thánh Phaolô mà chúng ta tưởng niệm
biến cố trở lại hôm nay, giúp chúng ta hiểu được sự trở lại đích thực mà người
kitô chúng ta phải theo đuổi mỗi ngày.
Hôm nay chúng ta cùng với Giáo hội mừng
ngày Thánh Phaolô được ơn trở lại, chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người luôn
được sống trong tình yêu mến Chúa và luôn trung thành với ơn gọi của mình trọn
cả cuộc đời như Thánh Phaolô thuở xưa.
Bây giờ xin cho tôi được chia sẻ một vài
suy nghĩ của tôi nhân dịp mừng ngày lễ trọng đại này.
I.
Phaolô ! Ngài là ai vậy ?
Thật rất khó mà có được một bài trình
bày đầy đủ và vắn tắt về con người đặc biệt này. Vì ở nơi con ngưởi này có quá
nhiều vấn đề và quá nhiều điều phải nói. Ở đây tôi chỉ xin được nói về một ít
đểm nổi bật trong cuộc đời của Ông
Tin Mừng không có một chữ nào nói về
ông.
1. Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi
Chúa Giêsu đã về trời.
Nhưng trong sách Tông Đồ công Vụ thì
hình ảnh Ông nổi bật nhất. Với sách TĐCV thì hình ảnh của ông sáng chói như một
vì sao, một vì sao cực sáng.
+ Ông là một con người có học thức. Ông
đã từng học Kinh Thánh với Gíáo sư Gamaliel, một vị giáo sư về Kinh Thánh nổi
tiếng thời đó.
+ Ông hiểu biết rất nhiều về thần thoại
và hệ thống triết học rất thịnh hành thời đó.
+ Ông say mê với niềm tin tôn giáo. Ông
tôn thờ Giavê Thiên Chúa và chỉ tôn thờ một mình Người.
+ Ông sống niềm tin đó một cách quyết
liệt và hầu như không thể khoan nhượng đối với những ai dám xúc phạm đến niềm
tin đó.
+ Chắc chắn ông đã từng nghe nói về Chúa
Giêsu,
Đối với Ông, thì Giêsu Nagiareth là Con
Người có thật
Con người ấy đã sinh ra tại Belem và lớn
lên ở Nagiareth : Điều ấy ai cũng biết.
Con người ấy đã giảng dạy, đã lôi cuốn
được đám đông. đã chữa lành được bệnh tật, đã phục sinh được cả người chết. Tóm
lại đã làm được rất nhiều việc mà những người khác không làm được
Đó là một con người có kiến thức và hiểu sâu biết rộng,
Một Con người biết rất rõ về Mosê và các tiên tri,
Một Con người có uy quyền khi giảng dạy,
Một Con người có những cái nhìn độc đáo và cách trình bày rất
sáng sủa về những vấn đề khó khăn nhất,
Và đặc biệt nhất là một con người có một
đời sống đạo đức và một lòng thương người không ai có thể sánh được
Đối với Ông, Đức Giêsu là một con người
rất đặc biệt nhưng dù gì đi nữa thì cũng chỉ là một Con người không hơn không
kém. Chính vì thế mà khi thấy Ngài có những hành động và công việc vượt quá
giới hạn của một con người thì Ông không thể chịu nổi.
Là một người biệt phái như Ông, Ông không thể nào chấp nhận được
một Ông Giêsu dám vi phạm ngày hưu lễ,
dám xúc phạm đến tập tục của tiền nhân,
dám làm loạn xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ,
dám tự cho mình có quyền tha tội,
dám thoải mái tiếp xúc với người người mà luật pháp đã cấm kỵ,
dám đồng bàn với những người luật pháp đã loại trừ
nhất là dám xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa
và táo bạo hơn dám xưng mình là Con
Thiên Chúa
Với tâm hồn của một người sùng đạo, Ông
cảm thấy phải làm cho ra lẽ, không thể nào khoan nhượng trước những hành động
ngang ngược như vậy và ông đã tự hứa phải ra tay để để tiêu diệt thứ "tà
đạo" này để trả lại sự tinh tuyền cho Đạo,
trả lại trật tự cho đời sống đạo đức
và trả lại địa vị độc tôn cho Thiên Chúa
Ông sẽ hành động để làm vinh danh Thiên
Chúa Israel
Thiên Chúa chính danh và hằng sống
Thiên Chúa duy nhất và hay ghen
Ông nhất quyết đi đến bất cứ nơi nào có
người tin vào Ông Giêsu
Ông sẽ đưa họ ra trước công nghị để họ
đối đáp với ông, để xem họ sai lầm đến mức độ như thế nào và nếu cần thì giết
họ đi, giết vài trăm người để cho Đạo Israel đứng vững thì đó cũng là điều đáng
làm.
2. Ông đã nghĩ và ông quyết làm
Bài sách thánh thứ I vừa mới thuật lại
cho chúng ta nghe cuộc hành trình đưa ông đến Damas.
Ông hăng say vượt qua con đường dài đến
250 Cây số để mong lôi được nhóm tà đạo này về Giêrusalem để trị tội.
Ông tưởng ông sẽ thành công
Thế nhưng có nhưng có ngờ đâu, chính lúc
ông đang hăm hở, hăng say với những tính toán đầy chết chóc như vậy thì Chúa
chặn đường Ông : một luồng sáng chụp lấy ông làm cho ông phải té ngã từ trên
lưng ngựa xuống.
Ông không còn thấy gì nữa.
Rồi ông nghe thấy có tiếng gọi ông
"Saolô !Saolô...Sao ngươi bắt bớ Ta
?
Ông hỏi lại : "Thưa Ngài, Ngài là
ai ?
Có tiếng đáp lại : "Ta là Giêsu
ngươi đang tìm bắt. Song hãy chỗi dậy và vào thành, người ta sẽ nói cho ngươi
biết ngươi phải làm gì. " (CVTD 9,5-8)
Ông không thể nào hiểu nổi.
Chẳng ai mà hiểu nổi cách hành động của
Chúa.
Chính Thầy cả Khanania khi được lệnh của
Chúa cũng phải sửng sốt.
Rồi sau khi được Khanania làm phép rửa,
ông bắt đầu sự nghiệp cuộc đời mới của mình tại chính nơi mà ông định đến đó để
bắt giữ. Ông đã làm chứng tại Damas những ông chỉ tạo được sự ngạc nhiên và
chưng hửng của những người đến nghe. Ông đã tích cực những chưa giúp đỡ được
ai. Không ai nghe ông, không ai chấp nhận được đức tin của ông. Công trình của
Thiên Chúa qua ông vẫn còn rất nhiều trở ngại.
Chúa đã cho ông gặp những khó khăn như
thế để ông thấy được giới hạn của mình, thấy được sự bất lực của mình, thấy
được sự yếu đuối của mình. Chính vì thế mà ông đã bỏ Damas để sang bên Ả Rập
sống trong thanh vắng để tĩnh tâm, để học hỏi và để cầu nguyện.
Ba năm trời ông nghiền ngẫm Kinh Thánh.
Với sự soi sáng hướng đẫn đặc biệt và
trực tiếp của Chúa Thánh Thần, Ông cảm thấy mình đã đủ lông đủ cánh,
Ông cảm thấy ông không còn phải là ông
nữa mà Chúa đã hoàn toàn chiếm đoạt tâm hồn ông : "Tôi sống những không
phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống ở trong tôi".
Thế là ông cất bước lên đường, bất chấp
mọi hiểm nguy, gian truân, tù đầy, săn đuổi, hành hạ, ném đá, đánh đập, cầm tù,
xiềng xích, chửi bới, lăng nhục, chết chóc....Ông chấp nhận tất cả miễn là Chúa
được vinh danh.
Nơi nào cần biết đến Tin Mừng là ông có
mặt : Antiokia, Cyprô, Lystra, Derbê, Troy, Phillip, Thessalonica. Athena,
Côrinthô, Ephêsô, Giêrusalem và cả Roma.Và bất kể người ai, bất kể ng nào :
ngoại giáo, nô lệ, tự do, hễ ai muốn được nghe Tin Mừng là ông sẵn sàng giảng
cho họ.
Vấn đề ông đặt ra thật rõ ràng :
Tin Đức Kitô hay chối bỏ Đức Kitô
Đức Kitô là đường hay là một trở ngại
Không ai nghe Phaolô xong mà lại dửng
dưng, hoặc là nhiệt thành ở về phe của ông hoặc là la ó chống lại ông
Đối với ông không có "nếu",
không có "và", không có "nhưng" chỉ có
"hoặc"...."hoặc"
II.
Bài học
1. Uy quyền của Chúa
- Chúa muốn làm gì, làm.
+ Xét về phương diện loài người thì
Phaolô quả là không xứng đáng. Một kẻ thù của Chúa lại trở thành tông đồ của
Ngài. Thật là phi lý.
Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một
người bạn, một người tình.
Từ một người đi lùng bắt những người
theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về Người và
sãn sàng chết cho Người.
Về phương diện trần thế chẳng khi nào
chúng ta thấy được như vậy, Những Chúa đã thực hiện những điều đó ngay trước
mặt mọi người. Dù muốn hay không muốn, dù tin hay không tin đó vẫn là sự thật
Chúa đã làm
2. Bài học về lòng yêu mến Chúa
+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động
sau đây : "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô.
Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm
tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay
tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào
khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể
hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8 Rm
8,18-19.32.33.38.39)
3. Bài học về sự gắn bó và lòng trung
thành đối với Chúa.
+ Phaolô : "Còn tôi, tôi sắp phải
đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận
chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi
chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí
công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà
còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện."
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét